Hậu WTO: Ngành nông nghiệp mới chỉ “hội” mà chưa “nhập”

Thứ năm - 01/12/2011 05:51
Sau hơn 5 năm gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), kim ngạch XK nông, lâm, thủy sản của Việt Nam luôn xuất siêu và ngày càng tăng. Tuy nhiên, điều đáng bàn là XK nhóm hàng này chỉ tăng về lượng, còn giá trị thì ngày càng giảm.
Hậu WTO: Ngành nông nghiệp mới chỉ “hội” mà chưa “nhập”
XK tăng lượng, không tăng giá

Theo báo cáo “Đánh giá tác động của việc thực hiện các cam kết WTO và khu vực đối với ngành NN&PTNT” vừa được Bộ NN&PTNT công bố: Sau 5 năm gia nhập WTO, GDP của ngành nông nghiệp không ngừng tăng trong giai đoạn 2000-2012, song tốc độ có xu hướng giảm đi. Giai đoạn 2000-2006 đạt 3,81%/năm nhưng giai đoạn 2007-2012 lại có xu hướng giảm nhẹ với con số 3,26%/năm.

Về thương mại ngành nông nghiệp, tốc độ tăng trưởng giá trị XK giai đoạn 5 năm trước gia nhập WTO đạt 18,4%/năm, cao hơn hẳn so với con số 15,6%/năm của 5 năm sau khi gia nhập WTO. Trong đó, tốc độ tăng trưởng giá trị XK của lâm sản giảm mạnh nhất từ 36,8%/năm giai đoạn trước xuống còn 13,1%/năm giai đoạn sau. Giá trị XK thủy sản và nông sản giảm nhẹ hơn (thủy sản từ 13,1%/năm xuống 10,1%/năm và nông sản từ 17,3%/năm xuống 13,1%/năm).

Báo cáo phân tích rõ, trong tổng kim ngạch XK, hàng nông sản chiếm tỉ trọng lớn và không ngừng tăng lên (từ 49% năm 2001 lên 57,7% năm 2012), trong khi thủy sản có xu hướng giảm (từ 40,8% năm 2001 trong tổng kim ngạch XK xuống còn 23,4% năm 2012). Một điều đáng lưu ý là, ngành nông nghiệp luôn duy trì được thặng dư thương mại, ngược với xu hướng thâm hụt chung cả nước. 5 mặt hàng XK chủ lực của ngành nông nghiệp là gạo, cà phê, tiêu, điều và chè với giá trị XK lớn không ngừng tăng cả về giá trị cũng như tốc độ, đặc biệt là giai đoạn sau khi gia nhập WTO. Cụ thể, tốc độ tăng trưởng giá trị XK của gạo, tiêu và chè lần lượt đạt 19,8%/năm, 23,9%/năm và 11,0%/năm trong giai đoạn 2007-2012 so với 15,4%/năm, 15,4%/năm và 7,2%/năm trong giai đoạn 2001-2006. Tuy nhiên, đáng chú ý là tăng trưởng kim ngạch XK chủ yếu nhờ vào tăng khối lượng chứ không phải tăng giá. Điều này phản ánh mức giá đơn vị giảm đi, gây lo ngại cho sản xuất cũng như XK nông sản.

Xây dựng nền nông nghiệp hướng về XK

Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Thị Xuân Thu cho rằng: Hậu WTO, sản xuất, XK nông nghiệp chưa xứng với tiềm năng. Nguyên nhân chính là do Việt Nam còn bị động, thiếu sự nghiên cứu. Quá trình triển khai gia nhập WTO chưa có sự chuẩn bị đúng mức về nội lực cho DN và nông dân. Bên cạnh đó, việc thay đổi chính sách nông nghiệp trong nước vẫn chưa bắt kịp được những cam kết cần thực hiện khi gia nhập WTO cũng như thiếu vắng những hoạt động hỗ trợ về mặt kỹ thuật, pháp lý, tiêu chuẩn chất lượng để thực hiện hiệu quả các cam kết.

Để ngành nông nghiệp hội nhập sâu rộng và hiệu quả hơn, theo nhiều chuyên gia, về chính sách vĩ mô, cần nghiên cứu việc điều chỉnh hợp lý tỷ giá hối đoái nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho XK nông sản, tạo môi trường thuận lợi để các ngân hàng có thể duy trì lãi suất cho vay phù hợp, đáp ứng yêu cầu của sản xuất, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của DN. Đồng thời, kiên quyết sắp xếp lại các DN Nhà nước làm ăn kém hiệu quả, tiến hành cổ phần hóa, rao bán các DN Nhà nước để đẩy mạnh hiệu quả kinh doanh của hệ thống DN nông nghiệp nông thôn cũng là việc làm quan trọng cần tính đến.

Đồng tình với những quan điểm trên,  TS. Đặng Kim Sơn, Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển nông nghiệp nông thôn (Bộ NN&PTNT) bổ sung: Xây dựng một nền nông nghiệp hướng về XK trong quá trình tái cơ cấu kinh tế là điều hết sức cần thiết. Một trong những khâu đột phá của định hướng này là cần tập trung đầu tư đồng bộ từ sản xuất, chế biến trên địa bàn ở các vùng chuyên canh và tổ chức xúc tiến thương mại để hình thành một số ngành hàng chiến lược cho đất nước, đem lại giá trị gia tăng cao và vị thế quan trọng trên thị trường quốc tế. Tại các vùng sản xuất nông nghiệp, cần đẩy mạnh hoạt động tái cơ cấu ngành hàng, kiên quyết chuyển các tài nguyên trên địa bàn sản xuất các ngành hàng kém khả năng cạnh tranh sang những ngành hàng có lợi thế. Kèm theo hoạt động này là các chính sách phù hợp để vốn, đất đai và lao động dễ dàng chuyển dịch khi sắp xếp lại và tái cơ cấu nền kinh tế.

“Về chính sách đầu tư, để tạo nên bước đột phá mới trong việc thu hút đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp cần ban hành một hệ thống chính sách tháo gỡ những khó khăn về vốn, khoa học công nghệ, cơ sở hạ tầng, giá đầu vào…” - TS. Đặng Kim Sơn nhấn mạnh. Đặc biệt, phải ưu tiên sử dụng đầu tư công và có chính sách liên kết công tư để tập trung vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng tại những vùng chuyên canh, cho những mặt hàng chiến lược, mũi nhọn quốc gia. Trong đó, phải tạo nên động lực đủ mạnh về lợi ích kinh tế để thu hút nhà đầu tư như miễn giảm thuế Thu nhập DN, miễn giảm thuế Giá trị gia tăng cho vật tư nguyên liệu, ưu tiên hỗ trợ mặt bằng và quỹ đất…

Xung quanh vấn đề này, chuyên gia nông nghiệp Võ Tòng Xuân cho rằng: Những bất cập trong quan hệ giữa nông dân và DN và giữa DN với nhau đã cản trở sự phát triển của ngành hàng mà Việt Nam có thế mạnh ngay cả khi không có đối thủ cạnh tranh như ngành cá tra. Do đó, điều cần làm ngay nữa là phải hình thành các hiệp hội ngành hàng với đại diện của các tác nhân chính tham gia điều phối công bằng cả thị trường lẫn tổ chức sản xuất kinh doanh. Việc tổ chức chuỗi ngành hàng cần kết hợp giữa việc mở rộng liên kết ngang (xây dựng các hợp tác xã, tổ, nhóm liên kết nông dân; tổ chức các hiệp hội DN, các hiệp hội thương nhân…), đồng thời mở rộng liên kết dọc (liên kết giữa tổ chức của người sản xuất với tổ chức của người chế biến và tổ chức của người kinh doanh) nhằm tạo sự đồng bộ về tiêu chuẩn chất lượng, mở ra khả năng truy xuất nguồn gốc hàng hóa.

Tác giả bài viết: Uyển Như

Nguồn tin: baohaiquan.vn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây